Blog

MVNO - Giải pháp cho nhà khai thác di động không có phổ tần

25/04/2019

Số lượng lớn thuê bao bùng nổ đã phát sinh các nhu cầu về quản lý và chăm sóc thuê bao… Hơn nữa, nhu cầu của khách hàng về dịch vụ ngày càng gia tăng, khách hàng đòi hỏi không chỉ là dịch vụ thoại và dữ liệu thông thường mà còn mong muốn các dịch vụ mới mang tính tương tác cao. Có thể nhận thấy rằng các nhà khai thác di động khó có thể thành công với nhiều ứng dụng và nội dung khác nhau do vậy cần có sự hỗ trợ và chia sẻ từ các nhà khai thác khác. Tuy nhiên những giới hạn về phổ tần sóng điện từ đã làm hạn chế số lượng nhà khai thác di động thực. Để giải quyết vấn đề này mô hình mới về khai thác dịch vụ di động dựa trên các Nhà khai thác mạng di động ảo (MVNO - Mobile Vitual Network Operator) đã ra đời. 

Lịch sử hình thành và phát triển của MVNO

Điện thoại di động bắt đầu bùng nổ vào những năm 1980 khi truyền dẫn tương tự được sử dụng trong tất cả các hệ thống thông tin. Tại thời điểm đó các máy di động không được sử dụng rộng rãi như bây giờ do vậy chúng được thiết kế theo phương thức mà có thể cố định lắp đặt trên các ô tô. Không lâu sau đó các hệ thống NMT, AMPS, TACS, RTMI, C-Netz, và Radiocom 2000 ra đời được xem như là thế hệ di động đầu tiên (1G- first Generation). Hệ thống này vẫn chỉ là hệ thống tương tự và chỉ đủ phổ tần cho 2 nhà khai thác.

Vào năm 1990 một công nghệ mới được giới thiệu đó là Hệ thống thông tin di động (TTDĐ) toàn cầu (Global System for Mobile communications- GSM), được coi như là công nghệ di động thế hệ thứ 2 (2G- Second Generation). Hệ thống di động 2G là hệ thống TTDĐ số hóa đầu tiên. Điểm tiến bộ của 2G là nó cho phép nhiều hơn hai nhà khai thác. Tuy nhiên 2G vẫn không đủ mang lại sự cạnh tranh thực sự. Vẫn chỉ một vài nhà khai thác tham gia thị trường do giới hạn về phổ tần di động.

Đáp ứng các yêu cầu về hạn chế phổ tần số trong TTDĐ, mô hình Nhà khai thác di động ảo ( Mobile Virtual Network Operator- MVNO) ra đời. Ưu điểm chính là không yêu cầu các nhà khai thác có phổ tần cho mạng của họ, kết quả là cải thiện được tính cạnh tranh trên thị trường khai thác dịch vụ TTDĐ. Khi có nhiều đối thủ cạnh tranh, giá dịch vụ sẽ giảm và người được lợi trực tiếp là các khách hàng. Ý tưởng mới này trong lĩnh vực di động đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các nhà khai thác viễn thông trên toàn thế giới. Virgin Mobile là công ty đầu tiên thành công mô hình thương mại hóa MVNO tại nước Anh vào năm 1999. Virgin Mobile hoạt động cung cấp dịch vụ TTDĐ tại Anh, Úc, Canada, Mỹ ...

Khởi đầu Virgin Mobile không có hạ tầng cho riêng mình mà thay vào đó họ ký kết thỏa thuận để có thể sử dụng hạ tầng của các nhà khai thác khác. Tại Anh, Virgin Mobile ký kết hợp tác với T-Mobile, sau đó vào năm 2004 Virgin Mobile tiếp tục ký kết với một công ty con của  BT Group là BT Movie để có thể sử dụng hạ tầng mạng quảng bá của Movie cung cấp dịch vụ truyền hình di động. Cho tới nay họ đã có khoảng hơn 4 triệu khách hàng trên toàn bộ nước Anh.

Tiếp sau sự thành công của Virgin Mobile, MVNO đã được nhiều nhà khai thác di động trên thế giới triển khai và nghiên cứu thử nghiệm. Tính đến tháng 2/2009, trên thế giới có hơn 400 MVNO đang hoạt động dàn trải ở 366 công ty. Ngoài ra cũng có khoảng 100 nhà khai thác cũng đang lập kế hoạch triển khai MVNO.  

Quan niệm về MVNO

Khái niệm về MVNO được nảy sinh khoảng hơn 15 năm trở lại đây. MVNO là một nhà khai thác di động mà không được cấp phép phân bổ tần số sóng điện từ và cũng không có hạ tầng vô tuyến. MVNO cung cấp dịch vụ thoại và dữ liệu di động tới khách hàng của mình dựa trên thỏa thuận hợp tác sử dụng cơ sở hạ tầng của nhà khai thác di động (MNO – Mobile Network Operator) khác. Một MVNO có thể hợp tác với nhiều MNO khác nhau. Trong đó Nhà khai thác di động (MNO) là nhà khai thác di động truyền thống được đặc trưng bởi giấy phép sử dụng phổ tần sóng điện từ, có hạ tầng mạng di động của chính họ và có mối quan hệ trực tiếp tới khách hàng. MNO có khả năng quản lý định tuyến mạng và có kết nối chuyển vùng với các MNO khác.

Hiện nay có khá nhiều định nghĩa về MVNO tuy nhiên có một điểm thống nhất chung rằng MVNO có sản phẩm dịch vụ riêng biệt hoàn chỉnh. Chính vì điều này MVNO yêu cầu có một thương hiệu riêng biệt để khách hàng khi sử dụng dịch vụ cảm thấy rằng họ đang sử dụng một mạng di động của chính MVNO đó. MVNO có các đặc tính chính sau:

-         Không có phổ tần sóng điện từ và hạ tầng mạng truy nhập (Trạm thu phát sóng BTS- Base Transceiver Station, Bộ điều khiển trạm gốc BSC- Base Station Controller) mà phải thuê lại từ các MNO khác dựa trên thỏa thuận kết nối.

-         Có thương hiệu riêng, số hiệu nhà khai thác di động quốc tế, có SIM riêng và có khách hàng riêng.

-         MVNO mua lưu lượng từ ít nhất một MNO cung cấp (bán lại) tới khách hàng của mình và xây dựng các dịch vụ giá trị gia tăng.

Tác động của MVNO tới các MNO

Sự ra đời của MVNO mang lại nhiều yếu tố tích cực trong phát triển của MNO. Bằng cách bán lại lưu lượng cho một hoặc vài MVNO, có thể mang đến các thuê bao mới và lưu lượng cho các mạng MNO, theo đó có thể mở rộng cơ sở khách hàng của nhà khai thác hiện nay với chi phí mua lại bằng 0.

Việc bán lại lưu lượng cũng là phương thức hiệu quả để chia sẻ chi phí vận hành mạng và nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư ban đầu. Hơn nữa, MVNO có thể đem đến những mạng lưới phân phối bán lẻ và các kênh bán hàng trực tuyến mà có khả năng thúc đẩy khách hàng qua các phương thức kinh doanh khách nhau. Khi các MVNO đưa ra các dịch vụ di động giá trị gia tăng, các đối tác cũng được hưởng lợi từ chia sẻ nguồn tài nguyên này.

Bên cạnh các yếu tố tích cực, sự xuất hiện của MVNO cũng mang lại nguy cơ tiềm tàng cho các MNO. Có thể dễ nhận ra rằng khi đó vị trí của MNO trên thị trường di động sẽ bị đe dọa, tính cạnh tranh sẽ trở lên mạnh mẽ hơn và các MNO có khả năng mất quyền điều khiển thị trường. Chính vì điều này cho tới nay rất nhiều MNO vẫn quan niệm về toàn bộ khái niệm MVNO như sự đe dọa lớn.

 

 

 

Viết bình luận: